Bệnh thận mạn thường diễn biến âm thầm và ít gây triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Nhiều người bệnh chỉ phát hiện chức năng thận suy giảm khi bệnh đã tiến triển. Khi tình trạng nặng hơn, người bệnh có thể xuất hiện phù, tiểu ít, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, ngứa, khó thở hoặc huyết áp khó kiểm soát; nguy cơ thiếu máu, rối loạn điện giải, biến chứng tim mạch và các rối loạn chuyển hóa cũng tăng lên.
Theo BSCKI Nguyễn Thị Viên – Trung tâm Thận – Lọc máu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ, người dân nói chung đặc biệt là người mắc đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch hoặc có các yếu tố nguy cơ nên chủ động kiểm tra sức khỏe của thận. Phát hiện bệnh sớm giúp bác sĩ xác định nguyên nhân, đánh giá mức độ tổn thương và lựa chọn hướng điều trị, theo dõi phù hợp nhằm kiểm soát bệnh một cách tốt nhất.
Những người có nguy cơ mắc bệnh thận mạn

Bệnh thận mạn có thể gặp ở nhiều đối tượng, nhưng nguy cơ cao hơn ở người mắc đái tháo đường, tăng huyết áp kéo dài hoặc kiểm soát chưa tốt; bệnh tim mạch, suy tim; có tiền sử bệnh thận, sỏi thận hoặc bệnh lý đường tiết niệu.
Nguy cơ cũng tăng ở người từng bị tổn thương thận cấp, mắc một số bệnh tự miễn, bệnh hệ thống hoặc bệnh thận di truyền; sử dụng kéo dài hoặc không phù hợp một số thuốc có nguy cơ gây tổn thương thận; người cao tuổi hoặc có nhiều bệnh lý phối hợp.
Trong đó, đái tháo đường và tăng huyết áp là những yếu tố cần đặc biệt lưu ý. Người thuộc nhóm nguy cơ nên được đánh giá sức khỏe thận định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ, ngay cả khi chưa có triệu chứng.
Không nên chờ có triệu chứng mới kiểm tra chức năng thận
Bệnh thận mạn thường tiến triển âm thầm, khó nhận biết ở giai đoạn đầu. Người mắc đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc có yếu tố nguy cơ nên kiểm tra định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ để kịp thời phát hiện và kiểm soát bệnh.
Việc đánh giá sức khỏe thận dựa trên các xét nghiệm phản ánh chức năng lọc và dấu hiệu tổn thương thận.
- Xét nghiệm nước tiểu có thể phát hiện protein, albumin, hồng cầu và các bất thường khác. Albumin niệu có giá trị trong phát hiện tổn thương thận, đặc biệt ở người bệnh đái tháo đường.
- Xét nghiệm creatinin máu giúp bác sĩ đánh giá chức năng thận và ước tính khả năng lọc của thận thông qua chỉ số eGFR. Chỉ số eGFR cho biết thận đang lọc máu tốt đến mức nào, từ đó hỗ trợ đánh giá mức độ suy giảm chức năng thận. Tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định thêm siêu âm thận – tiết niệu hoặc các xét nghiệm cần thiết khác.

Kết quả xét nghiệm cho thấy chỉ số bất thường của một người bệnh thận mạn
Một kết quả xét nghiệm bất thường chưa đủ để xác định bệnh thận mạn. Bác sĩ sẽ kết hợp kết quả xét nghiệm với tiền sử bệnh, thăm khám và diễn biến của các chỉ số theo thời gian để xác định nguyên nhân, đánh giá mức độ tổn thương và lựa chọn hướng điều trị phù hợp.
Điều trị nhằm kiểm soát nguyên nhân, bảo vệ chức năng thận
Sau khi xác định nguyên nhân và mức độ bệnh, bác sĩ sẽ xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp. Mục tiêu là kiểm soát bệnh lý nền, bảo vệ chức năng thận còn lại, hạn chế biến chứng và làm chậm quá trình suy giảm thận.

BSCKI Nguyễn Thị Viên thăm khám cho người bệnh
Kiểm soát huyết áp và đường huyết ở mức phù hợp có vai trò quan trọng trong hạn chế tổn thương thận tiếp diễn. Tùy nguyên nhân, giai đoạn bệnh và bệnh lý phối hợp, bác sĩ có thể chỉ định các thuốc phù hợp để kiểm soát bệnh nền, giảm albumin niệu hoặc hỗ trợ làm chậm tiến triển bệnh thận.
Người bệnh không nên tự ý mua, ngừng hoặc thay đổi liều thuốc, bởi chức năng thận có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn và hiệu chỉnh liều của nhiều loại thuốc.
Dinh dưỡng và lối sống cũng cần được điều chỉnh theo chức năng thận và bệnh lý đi kèm. Tùy từng trường hợp, người bệnh có thể được hướng dẫn kiểm soát lượng muối, protein, kali, phospho và nước trong khẩu phần. Duy trì cân nặng hợp lý, vận động phù hợp, không hút thuốc và hạn chế rượu bia góp phần kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch và hỗ trợ bảo vệ chức năng thận.
Theo dõi sức khỏe định kỳ để kiểm soát bệnh
Bệnh thận mạn cần được điều trị và theo dõi lâu dài. Tái khám đúng lịch giúp bác sĩ đánh giá diễn biến bệnh, phát hiện những thay đổi và điều chỉnh kế hoạch điều trị khi cần.
Tùy tình trạng, người bệnh có thể được theo dõi huyết áp, chức năng thận, albumin/protein niệu, điện giải, các rối loạn chuyển hóa, thiếu máu và rối loạn khoáng chất – xương; đồng thời đánh giá hiệu quả và độ an toàn của thuốc.
Tần suất tái khám phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn bệnh, mức độ albumin niệu, diễn biến chức năng thận và các bệnh lý phối hợp. Người bệnh cần tuân thủ kế hoạch điều trị, tái khám đúng hẹn và không tự ý thay đổi thuốc.
Người bệnh cần đi khám khi nào?

Người bệnh nên chủ động đi khám khi xuất hiện phù mặt, phù chân; tiểu máu, tiểu bọt kéo dài hoặc thay đổi bất thường về nước tiểu; lượng nước tiểu thay đổi rõ rệt; huyết áp tăng khó kiểm soát.
Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy creatinin tăng, eGFR giảm hoặc xuất hiện protein, albumin trong nước tiểu, người bệnh cũng cần được bác sĩ đánh giá để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thương.
Nếu tiểu rất ít hoặc không tiểu, phù nhiều, khó thở, đau ngực, lơ mơ hoặc sức khỏe diễn biến bất thường, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được đánh giá kịp thời.
Chủ động kiểm tra, bảo vệ sức khỏe thận

BSCKI Nguyễn Thị Viên kiểm tra sức khỏe, tư vấn cho người bệnh tại phòng khám Nội thận – Tiết niệu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ
Bệnh thận mạn có thể tiến triển trong thời gian dài mà không gây triệu chứng rõ ràng. Vì vậy, nhận diện yếu tố nguy cơ và kiểm tra sức khỏe thận phù hợp giúp phát hiện những thay đổi sớm, từ đó có cơ sở kiểm soát bệnh lý nền, điều trị và theo dõi đúng cách.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ khuyến cáo người mắc đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch hoặc có yếu tố nguy cơ bệnh thận nên kiểm tra chức năng thận định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ, ngay cả khi chưa xuất hiện triệu chứng rõ ràng.
Người dân khi gặp các vấn đề về thận vui lòng liên hệ để được các bác sĩ khám, tư vấn điều trị kịp thời:
Trung tâm Thận – Lọc máu: 0210.6254.098
Hoặc liên hệ Tổng đài tư vấn khám chữa bệnh (miễn phí cước cuộc gọi): 1800 888 989 để được tư vấn trực tiếp bởi các chuyên gia Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ.
Tác giả: BSCKI Nguyễn Thị Viên
Cộng sự: Mai Hoa
